Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh hoat chu diem. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh hoat chu diem. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2.9

Giữa lúc chiến tranh thế giới diễn ra ác liệt, mùa thu năm 1910 Nhật nhảy vào Đông Dương hất cẳng Pháp giành quyền thống trị khu vực này. Trong khi đó từ tháng 9 – 1930 đến năm 1944 Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Quân ta liên tiếp nổ ra bốn cuộc khởi nghĩa như : Khởi nghĩa Nam Kỳ, Bắc Sơn, Đô Lương, giải phóng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên …

Ngày 13/8/1945 Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định khởi nghĩa toàn quốc để giành chính quyền, giải phóng dân tộc, đây là lúc Nhật đầu hàng đồng minh. Từ ngày 14 – 18/8/1945, khởi nghĩa giành thắng lợi ở nông thôn miền Bắc, bộ phận miền Trung và một bộ phận miền Nam.
Ngày 19 / 8 / 1945 hàng trăm ngàn đồng bào Hà Nội xuống đường tấn công vào các làng sở, cứ điểm quân sự của địch và giành chính quyền tại Thủ đô. Từ ngày 19/8/1945 – 22/8/1945 quân khởi nghĩa cướp chính quyền ở : Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Sơn Tây, Ninh Thuận, Nam Định …

Ngày 23 / 8 / 1945 nhân dân Huế khởi nghĩa thành công, vua Bảo Đại thoái vị, xóa bỏ chế độ quân chủ. Từ 23 – 25/8/1945 Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Bạc Liêu, Đắc Lắc, Gò Công, Lạng Sơn, Phú Thọ được giải phóng.

Tại Sài Gòn ngày 25/8/1945 giành được chính quyền, đến ngày 28/8/1945 cả nước được giải phóng, như vậy chỉ trong vòng nửa tháng cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thành công.

Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân thế giới NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ra đời.
Chẳng những giai cấp công nhân lao động và nhà nước Việt Nam có thể tự hào, mà giai cấp lao động và nhân dân bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng :
“ Lần này là lần đầu tiên, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công đã nắm chính quyền toàn quốc”.

( CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ).

Ngày 01 tháng 6

KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ THIẾU NHI ( 01.6 )Vào rạng sáng ngày 1-6-1942, bọn phát xít Đức bao vây làng Li-đi-xơ (Tiệp Khắc), chúng bắt 173 người đàn ông, 196 người phụ nữ và trẻ em. Tại đây, chúng đã tàn sát dã man 66 người và đưa 104 em thiếu nhi vào trại tập trung, 88 em đã bị chết trong các phòng hơi độc, 9 em khác bị đưa đi làm tay sai cho bọn phát xít. Làng Li-đi-xơ không còn một bóng người. Hai năm sau, ngày 10-6-1944, bọn phát xít Đức lại bao vây thị trấn Ô-ra-đua (Pháp), chúng dồn 400 người vào nhà thờ, trong đó có nhiều phụ nữ và hơn 100 trẻ em, phóng hỏa đốt cháy một cách thảm thương.


Căm phẫn trước tội ác dã man của bọn phát xít Đức, cả loài người tiến bộ trên toàn thế giới kịch liệt lên án và đấu tranh để tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Sau khi phát xít Đức bị đánh bại, nhà nước Tiệp Khắc lúc bấy giờ đã cho xây dựng lại làng Li-đi-xơ và Đài tưởng niệm để ghi sâu tội ác của bọn phát xít.

Tháng 12-1949, Liên hiệp Hội phụ nữ Á Phi họp ở Bắc Kinh (Trung Quốc) đã đề nghị và được Liên đoàn phụ nữ Dân chủ thế giới chọn ngày 1-6 hàng năm làm ngày Quốc tế Thiếu nhi, nhằm nhắc nhở nhân dân toàn thế giới nhớ đến vụ thảm sát Li-đi-xơ và Ô-ra-đua của bọn phát xít, và hành động để bảo vệ và chăm sóc trẻ em.Tiếp theo quyết định lấy ngày 1 tháng 6 hàng năm là ngày Quốc tế Thiếu nhi, tháng 4 năm 1952 tại Viên ( thủ đô nước Áo) đã có cuộc họp quốc tế bảo vệ thiếu nhi. Hội nghị này đã yêu cầu tất cả Chính phủ các nước đặt ra những Pháp luật cho nước mình nhằm đảm bảo hạnh phúc cho các bà mẹ và trẻ em, đòi cấm dùng những phát minh khoa học vào mục đích chiến tranh.
Đến năm 1955, Đại hội các bà mẹ của hầu hết các nước trên thế giới họp tại Matxacơva đã tố cáo bọn đế quốc âm mưu gây lại chiến tranh và kêu gọi các bà mẹ khắp năm châu xiết chặt thêm hàng ngũ đấu tranh cho một nền hoà bình bền vững trên đất nước.Từ đó đến nay, những tổ chức phụ nữ thanh niên ở các nước đã lấy ngày 1 - 6 làm ngày biểu dương lực lượng đấu tranh chống các thế lực gây chiến tranh để bảo vệ hạnh phúc cho các bà mẹ và trẻ em trên thế giới.

Ở nước ta, từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 1- 6 đã được tổ chức hàng năm và trở thành ngày hội chăm sóc và bồi dưỡng thế hệ măng non cho Tổ Quốc.

Nhà nước ta cũng ban hành Pháp lệnh về chăm sóc và bảo vệ thiếu niên, nhi đồng coi trách nhiệm vẻ vang ấy là của toàn dân.

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em- Văn kiện pháp lý Quốc tế đầu tiên đề cập toàn diện đến các quyền trẻ em dựa trên nguyên tắc trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt.

Hàng năm, đến ngày 1.6 và tết Trung thu, thiếu nhi nước ta lại hân hoan được đón thư của Bác. Bác Hồ hết sức quan tâm dạy bảo các cháu nên người. Ngày nay 5 điều Bác Hồ dạy đã trở thành nội dung giáo dục chủ yếu của Đội TNTP Hồ Chí Minh và nhà trường phổ thông ở nước ta.

Ngày 26 tháng 3 năm 1931

KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỐ CHÍ MINH ( 26.3.1931 )Tháng 6 – 1925 Việt Nam thanh niên Cách Mạng đồng chí Hội được Hồ Chủ Tịch thành lập, ngay lúc ấy Người đã thành lập nhóm Thanh Niên Cộng Sản Đoàn làm nồng cốt cho Hội. Lúc đầu chỉ có 9 người, năm 1926 lên tới 26 người trong đó có đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong.

Từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, phong trào thanh niên được phát triển rộng rãi như trường Ngô Quyền ở Hải Phòng. Chi bộ thanh niên đầu tiên của thanh niên cộng sản ở nhà máy xi măng có 10 Đoàn viên, tờ báo bí mật ra đời với tên : Tia Lửa.

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đoàn vẫn sinh hoạt chung với chi bộ Đảng.

Tháng 2 năm 1931 nghị quyết của hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ II đã chủ trương thống nhất tổ chức thanh niên thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Đông Dương.

Cuối tháng 4 năm 1931 Đoàn có khoảng 2.000 đoàn viên và ở Trung Kỳ Xứ ủy Đoàn được thành lập trên cơ sở các Đoàn ủy và ban cán sự Đoàn các cấp.

Sau đó trong phiên họp lần thứ X ( tháng 9 năm 1960 ) và lần thứ XI ( tháng 1 năm 1961 ) của Ban Chấp Hành Trung Ương Đoàn, qua nghiên cứu tình hình thực tế đã quyết định thành lập Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Đông Dương. Và hội nghị Trung Ương Đoàn lần II đã quyết định chọn ngày 26 tháng 3 ngày mở đầu của hội nghị làm ngày “ Kỷ niệm sinh hoạt Đoàn”.

Quyết định này được đại Hội Đoàn toàn quốc lần thứ III ( tháng 3 năm 1961 ) thông qua .

Sáu mươi năm qua, kể từ khi Đảng quyết định thành lập Đoàn thanh niên Công Sản đến nay, Đoàn đã qua nhiều lần đổi tên :
Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương
Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
Từ 11/1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương
Từ 5/1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam
Từ 25/10/1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
Từ 2/1970 - 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Dù mang tên gì thì bản chất của Đoàn thanh niên vẫn tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phục vụ nhân dân, dũng cảm, lao động và học tập để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam mến yêu.

Sáu mươi năm qua Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tạo nên những truyền thống :

Truyền thống tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với nhân dân, một lòng đi theo Đảng quyết tâm đưa sự nghiệp Cách Mạng của Đảng đến thắng lợi.

Truyền thống của một lực lượng sung kích Cách Mạng, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng và tinh thần sáng tạo, đoàn kết thanh niên của cả nước vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đón lấy những nhiệm vụ nặng nề với tinh thần :

“Đâu Đảng Cần Thanh Niên Có, Việc Gì Khó Thanh Niên Làm”.
Truyền thống không ngừng học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước.

( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Ngày 8 tháng 3

NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8.3
Kỷ niệm 8 – 3 là dịp biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới, đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội, vì quyền hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.
Lịch sử ngày 8 – 3 bắt đầu từ phong trào nữ công dân Mỹ. Cuối thế kỷ 19 chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, nhất là ở Mỹ nền kỹ nghệ phát triển thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, bọn tư bản trả lương rất rẻ mạn. Đời sống phụ nữ và trẻ em vô cùng khổ cực. Căm phẫn trước sự đè nén áp bức đó, ngày 8 – 3 – 1899 các nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại thành phố Chicago và NewYork ( Mỹ ) đã đứng lên đòi tăng lương giảm giờ làm. Mặc dù bọn tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh, buộc bọn tư bản phải nhượng bộ.

Cuộc đấu tranh của nữ công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ trên thế giới, cuộc đấu tranh này đã ảnh hưởng lớn đến lao động phụ nữ Đức, một nước có nền kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Trong phong trào đấu tranh giai cấp lúc đó, đã xuất hiện hai phụ nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc là : Cơ-La-Ra-Zet-Kin ( Đức ) và bà Ro-Gia-Luc-Xam-Bua. Hai bà đã thấy được lực lượng mạnh mà đông đảo của phụ nữ lao động và sự cần thiết phải tổ chức, lãnh đạo để cùng phối hợp với bà Cơ-Rúp-Xcai-A ( vợ đồng chí Lênin ) vận động thành lập ban “ Thư ký phụ nữ Quốc tế “ để lãnh đạo phong trào phụ nữ. Bà Cơ-La-Ra-Zet-Kin được cử làm bí thư.
Năm 1910 Đại hội Quốc tế phụ nữ XHCN họp tại Cô-Pen-Ha-Giơ ( Đan Mạch ) đã quyết định lấy ngày 8 – 3 làm ngày “ Phụ nữ quốc tế “. Ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với khẩu hịêu :

Ngày làm 8 giờ.
Việc làm ngang nhau, lương ngang nhau.
Bảo vệ người mẹ và trẻ em.


Từ đó ngày 8 – 3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động toàn thế giới.
( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Ngày 03 tháng 02 năm 1930

THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ( 03.02.1930 )
Tháng 6 năm 1925 trên cơ sở tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu và Tâm Tâm Xã, đồng chí Nguyễn Ai Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, trong đó hạt nhân là Cộng sản đoàn.

Tuần báo thanh niên từ tháng 6 / 1926 và đặc biệt là cuốn “ Đường Kách Mệnh “ xuất bản năm 1927 đã đề cập tới những vấn đề chiến lược và sách lược của Cách mạng Việt Nam, được bí mật đưa về nước. Từ sau cuộc bãi công của công nhân Ba Son ( 8 / 1925 ), phong trào công nhân đã vượt qua giai đoạn tự phát để bước vào giai đoạn tự giác.

Nhiều cuộc bãi công lớn của các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền……..đã nổ ra. Riêng năm 1929 có tới 43 cuộc bãi công, phong trào công nhân đã thực sự trở thành lực lượng nồng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc.

Trước tình hình đó, nội bộ Việt Nam thanh niên Cách Mạng đồng chí Hội từ đầu năm 1929 đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa quan điểm vô sản và quan điểm tư sản xung quanh vấn đề thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Và tư tưởng vô sản đã thắng.

Tháng 3 / 1929 tại nhà 5D phố Hàm Long ( Hà Nội ), Chi bộ Cộng sản đầu tiên ra đời gồm 8 đồng chí : Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu………

Đầu tháng 6 / 1929 tại nhà số 312 phố Khăm Thiên ( Hà Nội ), 20 đại biểu Đảng Cộng sản Bắc Kỳ quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Mấy tháng sau, An Nam Cộng sản Đảng ra đời tại Nam Kỳ ( 10 / 1929 ). Ở Trung Kỳ giữa năm 1925, một tổ chức yêu nước tiến bộ cũng được thành lập lấy tên là Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đổi tên thành Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn (1/1930 ).

Như thế là đầu năm 1930, ở nước ta có 3 tổ chức tự nhận là Cộng sản và đều tìm cách tranh thủ sự thừa nhận của Quốc tế Cộng sản và trong khi tuyên truyền vận động quần chúng, 3 tổ chức không khỏi công kích, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng.

Ngày 27 / 10 / 1929 Ban Chấp Hành Quốc tế Cộng sản chỉ thị : “ Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của những người cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng Cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp Vô sản. Đảng đó chỉ là một tổ chức Cộng sản duy nhất ở Đông Dương “.

Ngày 3 / 2 / 1930 đồng chí Nguyễn Ai Quốc với bí danh là Vương thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì hội nghị thống nhất ba Đảng tại một ngôi nhà nhỏ thuộc tỉnh Cửu Long ( Trung Quốc ). Hội nghị gồm đồng chí Vương ( Nguyễn Ai Quốc ), đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu ( đại biểu Đông Dương Cộng Sản Đảng ), đồng chí Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu ( đại biểu An Nam Cộng Sản Đảng ), Tân Việt mới chuyển thành Đảng Cộng Sản nên không kịp cử đại biểu tham dự.
Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức được thành lập từ ngày lịch sử ấy ( 3/ 2 / 1930 ). Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua “ Chính sách và sách lược vắn tắt “ do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thảo cùng với điều lệ Đảng cũng được thông qua. Hội nghị còn cử Ban Trung Ương lâm thời đại diện cho 221 Đảng viên của toàn Đảng.

Đảng ra đời là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong lịch sử Cách Mạng Việt Nam.

Tháng 10 / 1930 tại Hội nghị BCH Trung Ương lần I cùng với việc thông qua Luận chính do đồng chí Trần Phú – Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng khởi thảo, Đảng ta mang tên mới : Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Với 45 năm ( 1930 – 1975 ) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân dân ta đã giành được độc lập tự do cho Tổ quốc.

Kỷ niệm ngày thành lập Đảng, lớp trẻ Thành Phố mang tên Bác Hồ đang ngày đêm lao động, học tập và sáng tạo vì Tổ quốc Việt Nam XHCN giàu mạnh.
( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Ngày 09 tháng 01 năm 1950

NGÀY SINH VIÊN HỌC SINH ( 09.01.1950 )

Những ngày cuối năm 1949 ở Sài Gòn sôi nổi hẳn lên, vì nhiều cuộc bãi thị, bãi khóa, bãi công. Nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa trường, bắt một số học sinh, cho rằng bãi khóa mang tính chất chính trị. Học sinh biểu tình lên Nha học chính, đòi phải hủy bỏ lệnh đóng cửa trường và thả những học sinh bị bắt. Không được, học sinh kéo lên Dinh Thủ Hiến, trong lúc đó Liên hiệp Công Đoàn Sài Gòn tổ chức tổng bãi công. Công nhân, học sinh, tiểu thương ủng hộ nhau, mỗi giới đều có khẩu hiệu riêng, đồng thời cả 3 giới đều nêu cao tinh thần đấu tranh chống “ Giải pháp Bảo Đại “, không khí Sài Gòn càng căng thẳng và vui nhộn khi được tin Bảo Đại sắp về. Đảng và mật trận rãi nhiều truyền đơn, còn nhân dân thì có sáng kiến thả một số con khỉ mang hình Bảo Đại trên cổ.

Cuộc bãi khóa kéo dài, nhà cầm quyền không nhượng bộ, học sinh cũng không chịu thua. Ngày 9 tháng 1 năm 1950 cả ngàn học sinh và hành trăm phụ huynh kéo lên dinh Thủ Hiến, khi đoàn biểu tình tới ngang tòa Đô Chính đụng một hàng rào cản toàn cảnh sát.
Cảnh sát đánh học sinh bằng dùi cui, sẵn mấy đống đá đang sửa đường học sinh lượm ném trả cảnh sát, nhân viên tòa Đô chính đổ đá ra đường, bưng đá tiếp tế cho học sinh. Cảnh sát tháo chạy vào dinh Thủ Hiến, đóng cửa lại. Học sinh tập hợp ở bãi cỏ rộng trước dinh trương băng-ron, hô khẩu hiệu đòi gặp Thủ Hiến Nam Kỳ lúc đó là Trần Văn Hữu , đòi mở lại trường học, thả học sinh bị bắt. Học sinh đòi phải có văn bản, đòi phải thả ngay. Thủ hiến xin chỉ thị của Uy viên Cộng Hòa Pháp là Chanson. Chanson không chịu nhượng bộ, học sinh không chịu giải tán “ Cắm trại “ ngay trước dinh. Đến 3 giờ chiều thình lình cảnh sát và binh lính trong dinh Thủ Hiến bắn ra, rồi tràn ra đánh đập học sinh. Một số học sinh đã hy sinh, cảnh sát cướp sác, anh em giành lại, hai bên giằng co nhiều người bị thương. Trong đó học sinh Trần Văn Ơn bị thương nặng, được đưa vào bệnh viện Chợ Rẫy, học sinh kéo ra chợ Bến Thành, vừa đi vưa hô khẩu hiệu. Bị thương nặng học sinh Trần Văn Ơn mất, tin này truyền đi như luồng điện làm xôn xao cả Sài Gòn. Học sinh lập tức gửi hàng trăm anh em đến Chợ Rẫy giữ thi thể Trần Văn Ơn và chuẩn bị đám tang bằng cuộc biểu tình.Ngày 10 tháng 1 năm 1950, ngày đưa linh cửu Trần Văn Ơn đi nghĩa trang, mấy chục vạn người theo sau quan tài. Phải nói từ sau ngày 25 tháng 8 và ngày 2 tháng 9 năm 1945 ở Sài Gòn chưa có một cuộc biểu tình nào lớn như vậy. Từ 5 giờ sáng các loại xe từ các ngã chở người biểu tình về, trường rộng hàng chục hecta chật ních người, vô số khẩu hiệu chống thực dân, chống ngụy quyền, cổ vũ tinh thần học sinh, mấy chục vạn người xếp thành đội ngũ kéo về hướng Chợ rẫy, dẫn đầu đoàn biểu tình là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, luật sư Trịnh Đình Tạo, kỹ sư Lưu Văn Lạng……và có cả mấy người cộng sản Pháp. Quan tài của học sinh Trần Văn Ơn được khiêng từ nhà thương ra, đi trước có hương án và hai câu đối trên băng trắng viết bằng máu của học sinh hùn lại :
" CHẾT VÌ TỔ QUỐC – CHẾT NHƯNG VẪN SỐNG
SỐNG KIẾP VIỆT GIAN – Ô NHỤC MUÔN ĐỜI “

Thành ủy đảng cộng sản nhận định rằng đây là một cuộc đấu tranh chính trị thắng lớn. “ Ngày toàn quốc đấu tranh của học sinh, sinh viên “ cho độc lập và thống nhất nước nhà khởi đầu tại Sài Gòn vào ngày 9 tháng 1 như thế đó.

( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20.11


Vào tháng 8 năm 1945, hội nghị quốc tế các nhà giáo họp tại Vác-Sa-Va, thủ đô nước cộng hòa nhân dân Ba Lan, đã thông qua bản hiến chương các nhà giáo và quyết định lấy ngày 20/11 hàng năm làm ngày Quốc tế hiến chương nhà giáo.

Đúng ngày 20/11/1958, ngày quốc tế hiến chương các nhà giáo được tổ chức lần đầu tiên trên toàn miền Bắc nước ta.

Từ đó đến nay, được sự quan tâm lãnh đạo của cấp Ủy Đảng và chính quyền, được sự cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, các phụ huynh học sinh, ngày 20/11 đã được tiến hành không riêng ở các tỉnh ở miền Bác mà cả ở vùng giải phóng miền Nam. Ngày 20/11 đã dần dần khắc sâu vào trí nhớ, vào tình cảm của mọi người và được tổ chức đều đặn hàng năm, mặc dù đã từ lâu trên thế giới không tổ chức ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo nữa.

Ở nước ta ngày 20/11 là ngày giáo giới biểu thị sự nhất trí hoàn toàn với đường lối cách mạng của Đảng, các chủ trương lớn của nhà nước. Đó cũng là ngày động viên cỗ vũ giáo giới thực hiện tốt đường lối và các chủ trương giáo dục của Đảng và nhà nước. Nhiều sinh hoạt chủ đề có tính nghề nghiệp đã được tổ chức nhân ngày nhà giáo 20/11. Nhiều hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, nhiều hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh có ý nghĩa giáo dục sâu sắc cũng được tổ chức nhân ngày 20/11.
Học sinh đã hưởng ứng ngày 20/11 của các thầy, cô bằng những hoạt động tỏ lòng quí mến, biết ơn thầy cô cố gắng học tập chăm ngoan. Các phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền, đoàn thể ở địa phương cũng nhân ngày này tổ chức đến thăm hỏi các thầy, các cô, hoặc tổ chức các cuộc tọa đàm với thầy, cô để giúp thầy cô làm tốt hơn sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

Rõ ràng ngày 20/11 xuất phát từ một nhiệm vụ quốc tế đã dần dần chuyển biến thành một ngày hội truyền thống của nhà giáo Việt Nam.

Quyết định của hội Đồng Bộ Trưởng từ năm 1982 ngày 20/11 – Ngày nhà giáo Việt Nam, là dựa trên cơ sở thực tế của ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo trước đó.

Truyền thống ngày nhà giáo Việt Nam 20.11

Với lịch sử mấy nghìn năm dựng và giữ nước, với một nền văn hóa lâu đời đầy sức sống, dân tộc Việt Nam đã xây dựng và phát triển những truyền thống tốt đẹp về nhiều mặt. Ngành giáo dục, nghề dạy học “giới nhà giáo” cũng có truyền thống riêng của mình.
Truyền thống nổi bật trước hết của nhà giáo Việt Nam là lòng nhân ái sâu sắc. Một trong những điều đau khổ nhất của nhân dân ta trước đây là sự dốt nát, lạc hậu. Dù nghèo đói đến đâu, người dân cũng ráng cho con “học dăm ba chữ để làm người”. Thông cảm với nỗi đau xót của người dốt nát mà người biết chữ tự thấy mình có trách nhiệm dạy người chưa biết chữ và dạy hết chữ mình thì đi học thêm để về dạy tiếp, xuất phát từ lòng yêu người, lòng yêu nghề của nhà giáo Việt Nam đậm tình vị tha.

Yêu thương con người, nhà giáo Việt Nam quan niệm công việc của người thầy giáo trước hết là “dạy người” tiếp thu đạo lý làm người của những thế hệ trước để truyền lại cho những thế hệ sau “thầy đồ”, “cụ đồ” là những người có học vấn, có đạo đức. Những người nổi tiếng hay chừ “đạo cao đức trọng, thường có rất nhiều người theo học “môn đồ” của Lê Quý Đôn có đến năm, bảy trăm, của Chu Văn An có đến hai, ba ngàn.

Nhà giáo Việt Nam thường sống giữa nhân dân. Ngày xưa thầy đồ được nhân dân nuôi cơm, đói no với dân theo mùa, áo quần mỗi năm dân may vài bộ. Ngoài thì giờ dạy, thầy giáo tiếp xúc rộng rãi. Vì thầy là người hiểu biết nhất trong vùng nên có việc là dân đến hỏi thầy …

Ngày nay người thầy giáo, nhất là thầy giáo ở nông thôn, ở miền núi, miền xa xôi hẻo lánh, thật sự là một cán bộ địa phương, là bạn của mọi người, là “cố vấn” của mọi gia đình.
Nhân dân ta yêu thầy giáo, trọng thầy giáo, biết ơn thầy giáo vì họ hiểu rằng nuôi dạy năm ba đứa con đã là khó khăn vất vả, đằng này người thầy giáo suốt ngày dạy dỗ hàng ngàn học trò. Đối với người dân, hình ảnh của thầy – cô giáo “đêm khuya chong đèn nghiêng mình trên chồng bài tập” đã trở nên một biểu tượng thân thương. Vì vậy mà nhân dân kể cả người không có con học với thầy, cũng gọi thầy bằng thầy. Thầy giáo, cô giáo trở thành người thân thiết của mọi nhà…

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, những người thầy chân chính bao giờ cũng là một nhà yêu nước, hoạt động dạy học thường gắn liền với hoạt động hoạt động cách mạng.

Dưới chế độ phong kiến, nhà giáo chân chính không tự ràng buộc mình trong quan niệm “trung quân ái quốc”. Họ đứng về phía nhân dân. Hành động “trung với nước, hiếu với dân” của họ từ chỗ không hợp tác, không làm quan như Võ Trường Toản, hoặc yêu cầu triều đình trừng phạt bọn gian thần, sửa sang chín sự để yên nước yên dân như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm … đến chỗ dấy binh trừng trị nhà vua hoang dâm, bạo ngược như Lương Đắc Bằng hoặc khởi nghĩa chống lại triều đình như Cao Bá Quát …

Từ khi đế quốc Pháp nổ súng xâm lược nước ta, trong hàng ngũ những người yêu nước chống Pháp, bằng nhiều hình thức khác nhau, luôn luôn có mặt những nhà giáo: Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Nghị, Tống Duy Tân, Nguyễn Quyền, Lương Văn Cao, Phan Bội Châu …

Lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam là Nguyễn Ai Quốc, bắt đầu cuộc đời hoạt động yêu nước của mình bằng nghề dạy học. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), với tinh thần yêu nước và có ý thức đúng đắn về nghề dạy học, đã có mộ số quan điểm và hoạt động khoa học phù hợp với khoa học giao dục hiện đại như quan điểm giáo dục toàn diện, giảng dạy cụ thể và vừa sức học sinh, tôn trọng nhân cách học sinh … Sau này, khi ở Pháp, ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở Thái Lan và khi ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ của chúng ta cũng dạy học – dạy văn hóa để dạy chính trị cho những đồng chí công tác gần gũi mình và cho cả đồng bào địa phương.

Điều đặc biệt có ý nghĩa là bốn đồng chí thay mặt cho nhóm cộng sản họp với Bác ngày 3/2/1930 để thành Lập Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đều là thầy giáo. Đó là đồng chí Châu Văn Liêm ở trường Sư Phạm, dạy ở Chợ Thủ (Long Xuyên); đồng chí Nguyễn Đúc Cảnh dạy ở trường tư thục Công Ích – Bạch Mai (Hà Nội); và đồng chí Trịnh Đình Cửu thì làm “Gia sư” cho nhiều gia đình ở Hà Nội để hoạt động cách mạng.

Hiện nay chưa có số liệu thống kê về số liệu nhà giáo tham gia các cấp ủy Đảng trong các thời kỳ cách mạng nhưng có thể nêu thêm một con số tiêu biểu: trong 9 đồng chí tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ bị thực dân Pháp kết án xử tự tại Hóc Môn ngày 25/8/1941, đã có 4 nhà giáo là Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần và Nguyễn Hữu Tiến.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, rồi trong cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhà giáo luôn luôn là lực lượng nòng cốt trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, chống văn hóa phản động, đồi trụy, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xưa nay, người thầy giáo chân chính bao giờ cũng có đạo đức. Đạo đức vừa là nội dung, vừa là phương pháp, phương tiện giáo dục của người thầy.

Đối với nhà giáo chân chính thì ý nghĩa lời nói và việc làm là một, cuộc sống với lý tưởng đạo đức là một. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An là biểu hiện lòng trung thực cao độ của người thầy vĩ đại. Đề nghị “chém 18 lộng thần” của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy. Nguyễn Đình Chiểu đã sống một đời đúng như lý tưởng đạo đức của mình, không hợp tác với giặc. Yêu nước, thương dân, chống gian tà, đề cao nhân nghĩa.

CÁC NGÀY NHÀ GIÁO TRÊN THẾ GIỚI

Thái Lan : Từ năm 1957, vương quốc Thái Lan lấy ngày 16 / 01 làm ngày nhà giáo. Cả nước được nghỉ 1 ngày tổ để tổ chức lể tưởng niệm rất trọng thể. Các đại biểu chính quyền từ vương quốc đến các địa phương đều đến dự lễ. Mọi người đều tỏ lòng biết ơn công lao dạy dỗ con em mình của các thầy cô giáo. Các giáo viên dạy giỏi và về hưu trong năm ấy được trao những phần thưởng xứng đáng.

Ấn Độ : Lấy ngày 5.9 làm ngày nhà giáo. Từ nông thôn đến thành thị và cả nước đều rực rở cờ và hoa, khẩu hiệu, biểu ngữ chào mừng và chúc tụng các tầy cô giáo. Tổng thống và cácvị trong chính phủ đến các nhà trường để chủ trì các cuộc vui văn nghệ. Tổng thống cũng đến nhà thầy cô giáo ưu tú để chúc mừng.

CHDCND Triều Tiên : Ngày 6.9 các hoạt động chào mừng ngày nhà giáo được tổ cưc sôi nổi trong cả nước.

Hungary : Chọn ngày 6.6 hàng năm làm ngày nhà giáo. Các hoạt động được tổ chức trong cả nước. Mọi người đi lại chúc tụng nhau như ngày tết nguyên đán ở nước ta.

Ba Lan : Lấy ngày 14.10 làm ngày nhà giáo. Ngày này các trường học vui mừng đón các đại biểu chính phủ đến thăm. Các đoàn phụ huynh và họcsinh đến tặng quà, hoa tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô.

Anbani : Lấy ngày 7.3 hàng năm làm ngày nhà giáo. Các hoạt động chào mừng và tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo được tổ chức trước và sau đó 10 ngày.

Vênêxuêla : Lấy ngày 15.1 làm ngày nhà giáo, nhân dân Vênêxuêla tổ chức ngày nhà giáo rất long trọng. Mọi người thăm hỏi, chúc mừng tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo. Tổng thống đích thân chủ trì các hoạt động chào mừng và ban thưởng cho các thầy cô giáo.

Đức : Lấy ngày 12.6 làm ngày nhà giáo. Cả nước Đức tập trung cho ngày chào mừng chúc tụng tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo và phát thưởng thích đáng.

Mỹ : Quốc hội Mỹ năm 1971 đã quyết định lấy ngày 28.9 làm ngày nhà giáo. Nhân dân tổ chức lễ hội tưng bừng, trọng thể, tuyên dương thành tích của ngành giáo dục. Họ còn tổ chức các hoạt động vui chơi, thăm hỏi các thầy cô giáo. Những người được bầu là giáo viên giỏi cấp toàn quốc được mời vào nhà trắng nhận phần thưởng và băng danh dự do chính tay tổng thống trao tặng.

Bồ Đào Nha : Là nước định ra ngày nhà giáo sớm nhất trên thế giới. Từ năm 1899, ngày 18.5 hàng năm là ngày nhà giáo. Cả nước tưng bừng như ngày hội.

Mông Cổ : Ở Mông Cổ từ năm 1967 ngày chủ nhật của tuần lễ thứ 1 trong tháng 2 hàng năm được chọn là ngày lễ các thầy cô. Ngày này cả nước tổ chức lễ kỷ niệm, tuyên dương công trạng những người làm công tác Giáo dục, khen thưởng giáo viên giỏi. Các báo đều dành những chổ trang trọng nhất, nêu lên thành tích của ngành giáo dục.

Cộng hòa Sec và các nước lân cận : Lấy ngày 28/3 làm ngày nhà giáo. Chính phủ trực tiếp trao nhiều giải thưởng cho các thầy cô giáo.

Liên Đội An Phú

Ngày Thiếu nhi Thế giới ( 20.11 )

Ngày Thiếu nhi Thế giới được tổ chức vào ngày 20 tháng 11 mỗi năm. Đầu tiên được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tuyên bố và khởi xướng vào năm 1954 để khuyến khích tất cả các nước thành viên ghi nhớ một ngày, trước hết là để thúc đẩy trao đổi và hiểu biết lẫn nhau giữa các trẻ em và thứ hai để bắt đầu tăng cường hành động phát triển phúc lợi và thúc đẩy tạo an sinh của trẻ em trên thế giới. Nó cũng được chọn là ngày để kỷ niệm thời thơ ấu. Ngày Thiếu nhi Thế giới kế tiếp Ngày Quốc tế nam giới vào 19 tháng 11 tạo ra một lễ kỷ niệm 48 giờ của nam giới và trẻ em tương ứng trong thời gian đó vai trò người lớn đóng góp tích cực trong cuộc sống của trẻ em và được công nhận.

Ngày lễ lần đầu tiên được tổ chức trên toàn thế giới trong tháng 10 năm 1953, dưới sự bảo trợ của Liên minh Quốc tế vì Phúc lợi trẻ thơ (International Union for Child Welfare) tại Geneva. Ý tưởng về một ngày thiếu nhi đã được thông qua do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào năm 1954.

Ngày 20 tháng 11 cũng là ngày đáng nhớ, khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên bố về quyền của trẻ em vào ngày này năm 1959. Công ước về Quyền trẻ em sau đó đã được ký kết trong cũng ngày này vào năm 1989, và đến nay được phê duyệt bởi 191 quốc gia.

Một vài nước coi Ngày Thiếu nhi Thế giới ngày 20 tháng 11 như Ngày Thiếu nhi chính thức của mình như : Canada, Úc, Ai Cập, Pakistan, Hungary, ...

Liên Đội An Phú

Ngày 20 tháng 10 năm 1930

NGÀY THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong đó, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.

Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai...

Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
- Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.
- Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.
- Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.
- Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.
- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

Nguồn Hội LHPN Việt Nam

Ngày 15 tháng 10 năm 1964

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI ( 01/02/1940 – 15/10/1964 )

Anh Trỗi sinh ngày 1/2/1940 tại xã Thanh Quý, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cũ, trong một gia đình bần nông. Anh được kết nạp vào Đoàn TN nhân dân CM ngày 12/2/1964, nhập ngũ vào ngày 17/2/1964, khi hy sinh là chiến sĩ biệt động thành phố.

Anh Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn, giàu lòng yêu nước, anh đã tìm đến với Cách Mạng và được giác ngộ, sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, quân khu Sài Gòn Gia Định.

Tháng 5/1964, anh được tổ chức giao cho nhiệm vụ giết tên bộ trưởng Mỹ Mác Namara. Đây là một trận đánh rất quan trọng và mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Theo kế hoạch ngày 9/5/1964, anh thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện, đặt ở cầu Công Lý, đón Mác Namara trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bại lộ và anh bị bắt. Địch giam anh ở khám Chí Hòa và dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tần dã man, vẫn không khuất phục được anh. Sau bốn tháng giam giữ không lay chuyễn được tấm lòng kiên trì của anh, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi.

Trong những ngày còn lại của đời mình, anh vẫn lạc quan tin tưởng và đấu tranh với địch. Chúng giết anh ngày 15/10/1964. Chính phút cuối cùng ở pháp trường, anh đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình. Anh đã dõng dạc hô to ba lần “ HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM ”. Khi bị trúng đạn ngã xuống anh còn gượng đứng dậy hô to “ VIỆT NAM MUÔN NĂM ”. Tấm gương hy sinh vô cùng dũng cảm của anh đã làm xúc động dư luận trong và ngoài nước. Anh được Bác Hồ tặng thưởng huân chương thành đồng hạng nhất và được Trung ương mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam truy tặng anh hùng ngày 17/10/1964.

Liên đội An Phú viếng mộ anh Trỗi nhân ngày 15.10

Tưởng nhớ và học tập gương yêu nước của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi từ năm 1982 thành Đoàn TP HCM quyết định lấy ngày hy sinh của anh làm ngày truyền thống thanh niên công nhân TP.

Ngày 15 tháng 10 năm 1968

KỶ NIỆM 46 NĂM NGÀY BÁC HỒ GỬI BỨC THƯ CUỐI CÙNG CHO NGÀNH GIÁO DỤC


Vào thời điểm ngày 15 tháng 10 hàng năm, các trường trong cả nước thường tổ chức lễ kỉ niệm ngày Bác Hồ gửi lá thư cuối cùng cho ngành giáo dục. Và dẫu không ai bảo ai, không có quy ước, nhưng tất cả mọi nơi đều nhấn mạnh câu văn: “Dù khó khăn đến đâu cũng tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt”.

Đó là bức thư Bác viết vào ngày 15-10-1968, gửi “các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp đầu năm học mới”. Năm học 1961, thực hiện ý kiến của Bác Hồ, phong trào thi đua “ Hai Tốt” được phát động bắt đầu từ tiếng trống khai trường của trường cấp II Bắc Lý. Phong trào lan rộng trong cả nước, cho đến năm học 1968-1969 mà Bác gọi là “ năm học thứ tư chống Mỹ cứu nước”, bức thư của Bác ra đời như một quyết tâm thư của ngành giáo dục về thi đua dạy tốt và học tốt.

Ở vào thời điểm này, giặc Mỹ điên cuồng ném bom phá hoại miền Bắc, tình trạng sức khoẻ của Bác đã có dấu hiệu xấu đi nhiều. Bác tỏ ra đặc biệt quan tâm khi nghe Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên và Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu báo cáo tình trạng dạy và học dưới làn bom đạn của quân thù, trong khi lương thực, thực phẩm thiếu thốn, nhưng việc sơ tán trường lớp vẫn đảm bảo an toàn, phong trào thi đua dạy và học vẫn khí thế. Bức thư đánh máy, Bác đọc rất kỹ, đã sửa chữa một số câu chữ, còn chuyển nhờ Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên xem kỹ và thêm ý kiến (bút tích còn lưu trữ ở bảo tàng Hồ Chí Minh).

Sau lời thăm hỏi ân cần mở đầu, Bác nhận xét và biểu dương thành tích của sự nghiệp giáo dục: Trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, sự nghiệp giáo dục của chúng ta vẫn phát triển nhanh, mạnh hơn bao giờ hết. Bác vui lòng biết rằng, mặc dù hoàn cảnh khó khăn, hiện nay miền Bắc nước ta đã có một vạn hai nghìn trường phổ thông, mỗi xã đều có trường cấp I, nhiều xã đã có trường cấp II, các huyện đều có ít nhất một trường cấp III. Số người đi học đã hơn sáu triệu, trong đó có hơn một triệu cán bộ và công nông đang học bổ túc văn hoá. Số người vào học các trường đại học và trung học chuyên nghiệp tăng gấp ba lần so với trước chiến tranh chống Mỹ. Hơn 30 trường đại học và trung học chuyên nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và các địa phương, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, tập trung cũng như tại chức”. Những dòng thư này là tư liệu lịch sử quý giá về nền giáo dục ở miền Bắc nước ta vào thời điểm chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất.

Tiếp đó là một giọng văn chính luận sắc bén: “Mặc dù giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc ác liệt, chúng không những đã thất bại thảm hại trên mặt trận chính trị và quân sự, mà ta đã thắng chúng cả trên mặt trận giáo dục và đào tạo cán bộ”. Giáo sư Trần Đình Đạm tâm sự khi đọc những dòng thư này của Bác: “ Là người trong cuộc vào thời điểm đó, tôi cũng như các đồng nghiệp đều biết rằng, chúng tôi cũng như cả nền giáo dục của chúng ta ngày nay vẫn còn nhiều khuyết điểm, nhiều vấn đề, cả những tệ nạn tiêu cực cũng có, song sự đánh giá và biểu dương chính diện và công minh của Bác thật đã ấm lòng và nức lòng chúng tôi, không những để vượt qua những khó khăn mà còn để khắc phục những yếu kém, phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng để làm tròn nhiệm vụ. Bác là Bác Hồ, là lãnh tụ tối cao, song không đứng trên chúng tôi, mà đứng cạnh chúng tôi, chia sẻ khó khăn và thuận lợi của chúng tôi…” Không riêng giáo sư Trần Đình Đạm, nhiều nhà giáo về hưu nay đã tuổi cao sức yếu vẫn nhớ lại những giây phút phấn chấn khi đọc những dòng thư đầy sự động viên, cổ vũ những cố gắng và thành tích mà các thầy cô giáo, các học sinh, sinh viên đã đạt được.

Động viên, khích lệ để nhắc nhở ân cần. Đó là cách của một nhà chính trị đại tài, khi những dòng tiếp theo Bác nhắc nhở 5 điều phải làm: Nâng cao tinh thần yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, cố gắng cho xứng đáng với đồng bào miền Nam anh hùng; Tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt; Bảo đảm sức khoẻ và an toàn; Phát huy đầy đủ dân chủ và xã hội chủ nghĩa; Các cấp Đảng và chính quyền phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp giáo dục, chăm sóc nhà trường về mọi mặt.

Không ai ngờ đó là bức thư cuối cùng của vị cha già dân tộc, nhưng từ những dòng thư ấy, hàng ngàn nhà giáo, học sinh, sinh viên đã cố gắng nỗ lực hết mình vì đồng bào miền Nam ruột thịt, hàng trăm nhà giáo và sinh viên đã gác bút nghiên lên đường ra trận và quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.

Nghiên cứu, học tập và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục, đó là tiền đề của mọi thành công. Bức thư cuối cùng của Bác gửi cho ngành giáo dục qua 41 năm vẫn còn nguyên giá trị lịch sử, khoa học và thực tiễn!

Ngày 15 tháng 10 năm 1956

TRUYỀN THỐNG HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 27/9/1945, tại Đại hội Đoàn thanh niên cứu quốc thành phố Hà Nội, Bác Hồ đã chỉ thị phải hình thành một mặt trận thanh niên rộng rãi và thống nhất do Đoàn thanh niên cứu quốc làm nòng cốt. Đứng trước yêu cầu đó, ngày 27/3/1946, Bác Hồ đã ký Sắc lệnh số 38 về việc thành lập Nha Thanh niên và Thể thao. Cùng vào thời gian trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị Tổng bộ Việt Minh chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh Niên Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam phục vụ sự nghiệp “Kháng chiến cứu quốc".

Tháng 6/1946, Tổng đoàn thanh niên Việt Nam ra đời (gọi tắt là Đoàn thanh niên Việt Nam), sau đổi thành Liên đoàn thanh niên Việt Nam, là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên Việt Nam yêu nước, tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Liên đoàn do Đoàn thanh niên cứu quốc làm nòng cốt; Cuối năm 1946, Liên đoàn thanh niên Việt Nam là thành viên chính thức của Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới.

Tháng 2/1950, Liên đoàn thanh niên Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ nhất tại căn cứ địa Việt Bắc trong khói lửa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các đại biểu từ khắp các vùng miền của Tổ quốc về dự. Đại hội vinh dự được đón Bác Hồ kính yêu cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới dự. Phát biểu tại Đại hội, Bác Hồ kính yêu đã ân cần căn dặn: Phải thực hiện đoàn kết, đại đoàn kết trong phong trào thanh niên, phải gíup đỡ nhau cùng tiến bộ. Tại Đại hội các đại biểu đã bầu anh Nguyễn Chí Thanh làm chủ tịch Liên đoàn thanh niên Việt Nam (đồng chí Nguyễn Chí Thanh nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Đại hội Liên đoàn Thanh niên Việt nam là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên với vai trò nòng cốt của Đoàn thanh niên cứu quốc. Sau Đại hội, Liên đoàn thanh niên Việt Nam đã động viên lớp lớp thanh niên hăng hái tham gia các phong trào thi đua tòng quân giết giặc lập công, đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, đấu tranh chống khủng bố, chống đàn áp, chống bắt lính đòi tự do dân chủ, hòa bình trong các đô thị lớn như Hà nội, Huế, Sài gòn... với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” theo tiếng gọi “Lên đàng” của non sông đất nước.

Ngày 8/10/1956, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ II được tổ chức tại Nhà hát lớn - Thủ đô Hà Nội, Đại hội đã thống nhất các tổ chức thanh niên Việt Nam với tên gọi chung là Hội LHTN Việt Nam. Ngày 15/10/1956, Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ kính yêu và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến dự. Huấn thị tại Đại hội, Bác Hồ căn dặn: “Là người chủ tương lai, cho nên toàn thể thanh niên ta phải đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, thi đua góp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, để mình làm chủ mai sau”. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương Hội gồm 52 anh, chị do Bác sĩ - Anh hùng lao động Phạm Ngọc Thạch làm Chủ tịch.

Tháng 12/1961 Đại hội đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ II được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã đánh giá hoạt động của Hội và phong trào thanh niên Việt Nam trong nhiệm kỳ I, bàn phương hướng hoạt động trong nhiệm kỳ II là “Đoàn kết chặt chẽ mọi tầng lớp thanh niên, động viên và tổ chức thanh niên học tập, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, Đại hội vinh dự được đón Bác Hồ kính yêu đến dự, Bác dạy rằng: Bác yêu mến thanh niên.

- Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng .

- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc .

- Vì trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên...”

Đại hội đã bầu Giáo sư Phan Huy Thông làm Chủ tịch Hội và phát động thanh niên tích cực tham gia thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, ra sức ủng hộ, chi viện cho cuộc đấu tranh của đồng bào và thanh niên miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, hơn một vạn tập thể thanh niên đã phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; 80 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tự nguyện đăng ký phấn đấu theo tinh thần: “Mỗi người làm việc bằng hai " vì miền Nam ruột thịt,15 vạn thanh niên tình nguyện gia nhập Đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Hơn 5 triệu lượt thanh niên đăng ký tham gia phong trào “Ba sẵn sàng", “Năm xung phong" và gia nhập Quân đội nhân dân chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất đất nước và quyết tâm sắt đá “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, xứng đáng với lời khen của Bác Hồ “Các cháu là thế hệ anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, Nam Bắc xum họp một nhà, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn, tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hai ngày 20 và 21/9/1976, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã tổ chức hội nghị thống nhất mặt trận thanh niên trong cả nước. Đây là sự kiện chính trị trọng đại trong phong trào thanh niên nước ta. Lần đầu tiên tại thành phố mang tên Bác kính yêu, đoàn đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gặp gỡ đoàn đại biểu Hội liên hiệp thanh niên Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng nhau bàn việc thống nhất mặt trận đoàn kết thanh niên lấy tên chung là Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của toàn thể thanh niên Việt Nam. Hội nghị thông qua Điều lệ mới của Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam và hiệp thương chọn cử Ủy ban Trung ương Hội gồm 96 anh, chị do giáo sư Lê Quang Vịnh làm Chủ tịch Hội. Trong hai ngày 24 - 25/9/1976, Hội nghị toàn quốc của Hội LHTN Việt Nam tiếp tục họp tại TP.Hồ Chí Minh thảo luận và đề ra nội dung công tác Hội trong thời kỳ mới. Đây là hình ảnh sinh động trong khối đoàn kết, tập hợp, thống nhất của thanh niên Việt Nam, là lực lượng hùng hậu của tuổi trẻ Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Hội nghị đã biểu dương những chiến công của thế hệ trẻ trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, Hội nghị đã dành thời gian thảo luận công tác củng cố tổ chức Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới.

Tháng 9/1988, Hội nghị Ủy ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam họp tại Hà Nội đã tiến hành kiện toàn Ủy ban Trung ương Hội, Anh Hà Quang Dự, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa V) được hiệp thương chọn cử làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Hội thay Giáo sư Lê Quang Vịnh nhận nhiệm vụ mới.

Ngày 08/12/1994, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ III đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. 400 đại biểu chính thức đã về dự Đại hội; Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội sửa đổi và hiệp thương chọn cử anh Hồ Đức Việt làm Chủ tịch Hội. Đại hội quyết định lấy ngày 15/10/1956 là ngày truyền thống hàng năm của Hội LHTN Việt Nam và đề ra các nhiệm vụ chủ yếu của Hội từ năm 1994 đến năm 1999 với 5 chương trình là: “Lập thân, lập nghiệp, xây dựng đất nước phồn vinh”, "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng tài năng trẻ, phát triển văn hoá, thể dục thể thao”, “Bảo vệ tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh”, “Công tác xã hội, bảo vệ môi truờng”, “Hợp tác hữu nghị với tuổi trẻ trong khu vực và trên thế giới”. 3 cuộc vận động là: "Tiết kiệm, tích luỹ", “Chống mù chũ, chống thất học", "Hiến maú nhân đạo".

Tại hội nghị Uỷ ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam cuối năm 1997, chị Trương Thị Mai – Bí thư Trung ương Đoàn được hiệp thương giữ chức Chủ tịch Hội thay anh Hồ Đức Việt nhận nhiệm vụ mới.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, trong nhiệm kỳ 1994 - 1999, các cấp bộ Hội đã huy động được số vốn hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ cho trên 700.000 thanh niên tổ chức sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập phát triển kinh tế; xây dựng 3.500 câu lạc bộ khuyến nông, đảm nhận 93.500 công trình thanh niên trị giá 276 tỷ đồng thu hút gần 12 triệu lượt thanh niên tham gia, phát động chiến dịch "Ánh sáng văn hoá hè"; phong trào thanh niên tình nguyện thu hút 80.000 hội viên, thanh niên tham gia, mở học xoá mù chữ cho 500.000 lượt người, công tác xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức Hội có bước phát triển tích cực.

Nhằm đánh giá kết qủa công tác Hội và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 1994 – 1999, đồng thời đề ra phương hướng nhiệm kỳ mới, từ ngày 13 đến ngày 15/01/2000, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ IV đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, 599 đại biểu tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng của cán bộ, hội viên, thanh niên cả nước đã về dự Đại hội. Đại hội diễn ra vào thời điểm dân tộc ta cùng cả nhân loại bước vào thời khắc lịch sử chuyển giao giữa hai thế kỷ. Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội sửa đổi và quyết định đề ra năm cuộc vận động là: “Học tập, sáng tạo vượt bậc vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đaị hoá đất nước", "Giúp nhau lập nghiệp vì dân giàu, nước mạnh", "Thanh niện tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”, "Vì chủ quyền tổ quốc, vì cuộc sống bình yên", "Xây dựng nếp sống văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đại hội đã hiệp thương chọn cử chị Trương Thị Mai - Bí thư Trung ương Đoàn giữ chức Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam.

Tại kỳ họp Uỷ ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam lần thứ 5 (khóa IV) ngày 15/2/2003 đã hiệp thương kiện toàn Ủy ban Trung ương Hội, Đoàn Chủ tịch và Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội, anh Hoàng Bình Quân - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn được hiệp thương chọn cử giữ chức Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam thay chị Trương Thị Mai nhận nhiệm vụ mới.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, nhiệm kỳ 2000 – 2005, kết qủa công tác Hội và phong trào thanh niên Việt Nam có nhiều bước phát triển, 5 cuộc vận động của Hội đã góp phần không nhỏ vào sự tạo dựng, bồi đắp những phẩm chất, đức tính cho lớp thanh niên Việt Nam trưởng thành trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Gần 290.000 hội viên, thanh niên được nhận học bổng với số tiền trên 60 tỷ đồng; 361.000 hội viên, thanh niên hỗ trợ, giúp nhau lập nghiệp với số tiền lên tới 206 tỷ đồng; gần 500.000 hội viên, thanh niên được chuyển giao, tiếp nhận các kiến thức khoa học, kỹ thuật; chỉ tính riêng hơn 3.000 hội viên Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam đã đạt doanh thu trên 5 tỷ USD/năm và tạo việc làm với thu nhập ổn định cho trên 600.000 lao động; 226.583 hội viên, thanh niên tham gia hiến máu nhân đạo; gần 20 triệu lượt cán bộ, đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia các chiến dịch thanh niên tình nguyện; đầu nhiệm kỳ chỉ có 2,5 triệu hội viên, đến hết năm 2004, tổng số hội viên trong cả nước đạt 5,6 triệu (vượt kế hoạch đề ra 600.000 hội viên)... Những thành tích trên đã góp phần không nhỏ vào thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong thời gian qua.

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ ngày 25 đến 27/02/2005, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ V đã diễn ra trọng thể tại Thủ đô Hà Nội, tham dự Đại hội có 798 đại biểu, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các bộ, ngành, đoàn thể của Trung ương và Hà Nội, các cán bộ chủ chốt của Trung ương Đoàn, Trung ương Hội qua các thời kỳ, ngoại giao đoàn và gần 40 đoàn đại biểu quốc tế đã đến dự, chỉ đạo và chia vui với Đại hội. Đại hội diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và kế hoạch 5 năm (2001 – 2005). Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nông Đức Mạnh đã có bài phát biểu quan trọng, đồng thời thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng trao tặng thanh niên Việt Nam và Hội LHTN Việt Nam bức trướng mang dòng chữ: “ Thanh niên Việt Nam đoàn kết, sáng tạo, hăng hái tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”. Đại hội đã tổng kết công tác Hội và phong trào thanh niên nhiệm kỳ IV và đề ra phương hướng công tác Hội nhiệm kỳ V, thông qua Điều lệ Hội sửa đổi, hiệp thương chọn cử Ủy ban Trung ương Hội khóa V gồm 135 anh chị; anh Nông Quốc Tuấn - Bí thư Trung ương Đoàn được hiệp thương chọn cử giữ chức Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam khóa V. Hưởng ứng phong trào “Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” do Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII phát động; với tinh thần "Đoàn kết, sáng tạo, tình nguyện” và ý chí quyết tâm “Nguyện đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, Đại hội Hội LHTN Việt Nam đã phát động thanh niên Việt Nam hưởng ứng tham gia 5 cuộc vận động là: “Thanh niên đi đầu trong xã hội học tập”, “Thanh niên làm kinh tế giỏi, tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo”, “Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”, “Vì cuộc sống bình yên, vì chủ quyền Tổ quốc”, “Thanh niên sống đẹp”.

Để khẳng định những kết qủa, thành tích và sự đóng góp của các thế hệ cán bộ, hội viên, thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; ngày 09/05/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 433-QĐ/CTN tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cho Hội LHTN Việt Nam vì “Đã có nhiếu thành tích xuất sắc trong công tác tổ chức, vận động thanh niên tham gia các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, giữ gìn an ninh - quốc phòng... góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”

Trải qua gần nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, nhìn lại những chặng đường đã qua của Hội LHTN Việt Nam, mỗi thanh niên Việt Nam có quyền tự hào bởi trong mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với vai trò nòng ốt chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam đã có những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lớp lớp các thế hệ thanh niên Việt Nam đã cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng, hun đúc nên truyền thống vẻ vang của Hội LHTN Việt Nam và các tầng lớp thanh niên Việt Nam, là: yêu nước nồng nàn, gắn bó với lợi ích dân tộc; xả thân vì độc lập tự do của dân tộc, tình nguyện chung sức vì sự phồn vinh của đất nước, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân "Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”

doantncshcm.dongnai.gov.vn

Ngày 15 tháng 5 năm 1941

KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH ( 15.5.1941 )


Ngay từ sau khi đảng cộng sản Đông Dương ( nay là đảng Công sản Việt Nam ) ra đời ( 3.2.1930 ) đã có những tổ chức tiền thân của Đội Thiếu niên với các tên gọi : Đội Thiếu niên Xích Vệ, Đồng Tử quân, Hồng nhi Đội, Đội thiếu niên Cảnh Đế…….. hoạt động theo các tổ chức Cách mạng của Đảng tại các phong trào lớn như Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đó là những người công sản nhỏ tuổi đầu tiên, những tổ chức tiền thân của Đội TNTP Việt Nam.

Trong nghị quyết của hội nghị trung ương Đảng bàn về công tác thanh vận
( cộng sản thanh niên vận động ) tháng 10.1930 có ghi :

“ Muốn cho ảnh hưởng cộng sản lan rộng trong quần chúng thanh niên lao động, cộng sản thanh niên Đoàn chẳng những chỉ lo việc chính là tổ chức những chi bộ ở các sản nghiệp và ở các nơi khác mà thôi, mà lại phải hết sức tổ chức ra những đoàn thể phụ thuộc như là những bộ phận thanh niên trong công, nông hội, thanh niên vệ đội, đồng tử quân, thiếu niên cách mạng……..những đoàn thể này phải ở dưới quyền chỉ huy và kiểm duyệt của cộng sản thanh niên đoàn mới được “.

Năm 1941, Bác Hồ về nước. Kể từ đây, ngoài những công việc quan trọng, lớn lao của Đảng trong sự nghiệp giải phóng đất nước, tiến tới tổng khởi nghĩa ngày 19.8.1945, Bác rất chú ý đến việc chăm sóc, giáo dục các cháu thiếu nhi. Bác đã tạo điều kiện cho việc thành lập Đội Thiếu niên trên chiến khu Việt Bắc theo nghị quyết lần thứ 8 của trung ương Đảng vào tháng 5 năm 1941.

Ngày 15.5.1941, tại thôn Nà Mạ ( Cao Bằng ), một tổ chức thống nhất do Đảng khai sinh ra và lãnh đạo giìanh cho thiếu nhi Việt Nam đã được quyết định thành lập và Đảng đã trao nhiệm vụ phụ trách thiếu nhi cho Đoàn TNCS.

Đội TNTP được thành lập không phải với mục đích của một tổ chức giáo dục trẻ em thông thường, một tổ chức xã hội từ thiện hoặc vui chơi đơn giản. Với tư cách là một tổ chức Đội giáo dục cộng sản cho các em theo 5 điều Bác dạy. Sau này trở thành người kế tục cho Đảng, của Bác Hồ những chiến sĩ Cách Mạng, những người lao động làm chủ tập thể, phát triển toàn diện, trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Mục tiêu trước mắt của Đội là giáo dục và rèn luyện trở thành Đoàn TNCS.

Ngày 30.01.1970, BCH Trung ương Đảng quyết nghị cho Đoàn TNCS và Đội TNTĐ , Đội Nhi đồng được mang tên Bác Hồ vĩ đại.

( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Ngày 19 tháng 5 năm 1890

KỶ NIỆM NGÀY SINH NHẬT BÁC HỒ ( 19.5.1890 )
Ngày 18.5.1946, báo cứu quốc xuất bản ở Hà Nội có đăng một bài đặc biệt “ Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam “ trong đó cho biết ngày 19.05.1890 là ngày sinh của Bác. Đây là lần đầu tiên mọi người biết được ngày sinh của Bác.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19.05.1890 ở quê ngoại làng Hoàng Trù, sau về quê nội làng Kim Liên, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An, thân sinh là cụ Nguyễn Sinh Huy ( tức Nguyễn Sinh Sắc 1863 => 1929 ) đỗ phó bản 1901, thân mẫu là cụ Hoàng Thị Lan ( 1868 => 1901 ).

Chị cả của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh ( 1884 => 1954 ), anh ruột là ông Nguyễn Sinh Khiêm ( tức là Nguyễn Tất Đạt 1888 => 1950 ) từng tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp và bị tù đày.

Từ nhỏ đến 1901 Bác sống ở quê ngoại, sau đó về quê nội ở , rồi 1905 vào học quốc học Huế đến năm 1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước, 1920 Bác tìm được con đường Cách mạng vô sản, từ 1920 => 1930 Bác truyền bá chủ nghĩa Mac – Lê nin vào Việt Nam, thành lập Việt Nam cách mạng đồng chí Hội, đến 3.2.1930 thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Sau 30 năm xa tổ quốc, tháng 2.1940 Bác trở về Pắcbó trực tiếp lãnh đạo công cuộc đấu tranh chống Nhật, Pháp, quyết định tổng khởi nghĩa mở ra thắng lợi cách mạng tháng 8.1945.

Từ đó cho đến khi Bác qua đời ( 2.9.1969 ) Bác đã cùng Đảng, chính phủ lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đưa nước ta đến độc lập, thống nhất.

Nhân kỷ niêm 100 năm ngày sinh của Bác ( 19.5.1890 => 1990 ) tổ chức UNESCO thế giới công nhận Bác Hồ là danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975

KỶ NIỆM NGÀY MIỀN NAM HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG ( 30.4.1975 )
Mùa xuân năm 1975, nhân dân ta ghi được một chiến công vĩ đại, sau 55 ngày đêm tấn công thần tốc giải phóng hoàn toàn Miền Nam, giành lại độc lập tự do trên toàn đất nước.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy được mở đầu bằng trận đánh hết sức táo bạo, bất ngờ tại thị xã Buôn Mê Thuột làm rung chuyển toàn bộ Tây Nguyên vào 10.3.1975 quân ngụy sài Gòn rút khỏi Kom Tum và Plây Cu, ngày 24.3.1975 cả vùng Tây Nguyên đuợc giải phóng, một cao trào tiến công và nổi dậy dâng lên mạnh mẽ, dồn dập.

24.3.1975 tỉnh Quảng Ngãi với thị xã Quảng Ngãi
28.3.1975 tỉnh Quảng Nam với thị xã Tam Kỳ
1.4.1975 tỉnh Bình Định với thị xã Quy Nhơn rồi Phú Yên với thị xã Tuy Hoà
2.4.1975 tỉnh Lâm Đồng với thị xã Bảo Lộc
3.4.1975 tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang
4.4.1975 tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt

Khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, trưa ngày 26.3.1975 giải phóng cố đô Huế, 29.3 giải phóng Đà Nẵng. Phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng quân ta tiến công và nổi dậy chiếm thị xã An Lộc, giải phóng tỉnh Bình Long, mở rộng vùng giải phóng ở Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Long An, Long Khánh, Bình Tuy.

Giải phóng Cố đô Huế

Bước vào tháng 4.1975 trận quyết chiến cuối cùng bắt đầu, ngày 9.4 đánh vàoXuân Lộc ( tỉnh Long Khánh ) 16.4 giải phóng Phan Rang ( Ninh Thuận ) rồi đến tỉnh Bình Thuận với thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tâm với thị xã Hàm Tân.

QGP tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất

Vào 17 giờ ngày 26.4.1975 quân ta tiến công hướng Đông và Nam Sài Gòn, ngày 28.4 tiến công sân bay Tân Sơn Nhất. Đúng 0 giờ ngày 24.4.1975 các binh đoàn chủ lực từ nhiều hướng tiến công về Sài Gòn, sáng 30.4.1975 một mũi thọc sâu của quân ta đánh thẳng vào trung tâm Thành phố, chiếm phủ tổng thống, lá cờ mật trận dân tộc giải phóng tung bay trên dinh độc lập lúc đó 11 giờ 30 phút.

QGP tiến vào Dinh Độc Lập

Thừa thắng xông lên, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy. Ngày 1.5.1975 toàn bộ lãnh thổ trên đất liền được giải phóng.
Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của mùa xuân 1975 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhất của dân tộc ta. Chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài 117 năm của thực dân, đế quốc, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
( Nguồn tài liệu sinh hoạt chủ điểm - LĐ An Phú Q2 )

Ngày 22 tháng 12 năm 1944


THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ( 22.12.1944 )

Ngày 22 – 12 – 1946 theo chỉ thị của Hồ Chủ Tịch, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại một khu rừng thuộc tỉnh Cao Bằng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Hồ Chủ Tịch ủy nhiệm lãnh đạo Đội. Đội biên chế thành 3 tiểu Đội do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng và đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. Đội có 34 chiến sĩ với 34 cây súng nhưng đều là những chiến sĩ kiên cường của công nông được chọn lọc từ các đội du kích ở Cao – Bắc – Lạng. Một số được học quân sự ở nước ngoài, hầu hết đã qua chiến đấu.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lịch sử quân đội ta. Nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang Cách Mạng : Kháng chiến toàn dân, xây dựng 3 thứ quân, hoạt động kết hợp quân sự với chính trị. Hồ Chủ Tịch nói “ Đội tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh mong cho chóng có đội quân đàn em khác ….. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp nơi của Việt Nam chúng ta”.
Chính vì ý nghĩa đó, ngày 22 tháng 12 năm 1944 được chọn làm ngày kỷ niệm thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Tháng 4 năm 1945 theo quyết định của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu Quốc quân đã thống nhất vào ngày 15 tháng 5 năm 1945 và mang tên Việt Nam Giải phóng quân. Lễ thống nhất được tổ chức tại chợ Chu ( Thái Nguyên ) với 13 đại đội.
Tại các chiến khu Cách Mạng trong nước, lực lượng du kích vẫn phát triển trong 3 hình thái, 3 thứ quân. Tháng 5 năm 1945 thành lập trung đội du kích của chiến khu Quang Trung, tháng 6 năm 1945 đội du kích Đông Triều ra đời.

Trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8, Việt Nam Giải phóng quân có vai trò quan trọng : Từ cây đa Tân Trào, đơn vị chủ lực của đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, mở đầu cho tổng khởi nghĩa toàn quốc.

Trong kháng chiến chống Pháp, quân đội ta mang tên quen thuộc cho tới nay là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, quân đội ta bước vào thời kỳ trưởng thành.

Trong kháng chiến chống Mỹ vĩ đại vừa qua, Giải phóng quân miền Nam đã góp phần quyết định vào chiến thắng mùa Xuân năm 1975.

“ Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì Chủ Nghĩa Xã Hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là lời Hồ Chủ Tịch tặng cho quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1975 đến nay, Quân đội ta tiếp tục truyền thống quý báu của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng giữ gìn sự nghiệp độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đồng thời tiếp tục rèn luyện, giáo dục người chiến sĩ nhân dân luôn trung thành với Tổ Quốc.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946

KỶ NIỆM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN ( 19.12.1946 )

Vụ nổ súng gây biến ở Sài Gòn ngày 23/09/1945 là ngày mở đầu của cuộc chiến tranh xâm lược lại nước ta do thực dân Pháp tiến hành.

Cuộc chiến tranh nhanh chóng lan rộng khắp Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Cũng thời gian đó 18 vạn quân Tưởng tràn vào miền Bắc bóp chết nền dân chủ Cộng hòa còn trẻ tuổi của chúng ta. Trước tình hình nguy hiểm của vận nước Đảng ta chỉ thị “ Kháng chiến kiến quốc “ ( 25 / 12 / 1945 ) vạch ra kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược.

Trước tình hình phức tạp đó, Hồ Chủ Tịch đã ký kết với Pháp bản hiệp định sơ bộ ngày 6 / 3 / 1946, cho 15 ngàn quân Pháp vào thế chân Tưởng rút về nước. Khi quân Tưởng rút, bọn tay sai còn lại bị tan rã. Thế là ta đã gạt thẳng một kẻ thù nguy hiểm để tập trung vào thực dân Pháp.

Từ cuối tháng 11, giặc Pháp càng lộ rõ thái độ hiếu chiến. Ở ngoài Bắc, giặc Pháp dùng Hải quân, lục quân, không quân đánh phá Hải Phòng, cướp đoạt thế quan và nổ súng chiếm thị xã Lạng Sơn. Quân dân Hải Phòng, Lạng sơn đứng dậy đấu tranh bảo vệ thành phố thân yêu của mình. Những cuộc xung đột lẻ tẻ ở các địa phương báo hiệu nguy cơ chiến tranh đang đến gần.

Đầu tháng 12 giặc Pháp càng khiêu chiến trắng trợn, ở Hà Nội ngày nào cũng xảy ra những vụ bắn phá giết người, cướp của. Nghiêm trọng nhất là chúng cho lính đến phá phách phòng thông tin Tràng Tiền trong ba ngày liền từ mùng 2 đến mùng 4. Chiều mùng 7, chúng chiếm ngân hàng Pháp – Hoa. Xe tăng xe bọc thép chở lính Pháp đi khắp phố phường, cán chết người, húc đổ nhà cửa.

Nhân dân thủ đô không khuất phục, nhiều vụ chiến đấu mọc lên khắp phố phường. Thanh niên được tổ chức những đội tự vệ.

Chiều 16 và sáng 17 – 12, giặc Pháp gây vụ thảm sát ở phố Yên Linh - Hàng Bún hàng chục người bị giết, nhà cửa bị đốt phá tan hoang. Sáng 18 giặc Pháp nổ súng vào khu vực Hàng Khoai – chợ Đồng Xuân, 21 giờ đêm hôm đó chúng gởi tối hậu thư đòi tước vũ khí Vệ Quốc Đoàn, tự vệ, công an, đòi kiểm soát trật tự trị an trong thành phố. Những hành động đó chứng tỏ địch đã sẵn sàng nổ súng cướp nước ta một lần nữa.

20 giờ ngày 19 – 12 – 1946 đèn điện ở Hà Nội phụt tắt súng nổ ầm trời. Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã bắt đầu trên toàn quốc. Giờ cứu nước đã đến, các chiến lũy được cũng cố vững chắc……. Trong ánh lửa mịt mù, nhân dân Hà Nội dốc sức cho cuộc chiến đấu với kẻ thù.

……Tại các thành phố khác, cuộc kháng chiến chống Pháp cũng bùng nổ.
Ngày 20 – 12 Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!


Dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng, theo lời kêu gọi của Đảng, của Hồ Chủ Tịch, toàn dân ta anh dũng bước vào cuộc chiến tranh yêu nước thần kỳ để rồi :

Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

Hiệp định Giơnevơ 20 – 7 – 1954 được ký kết, giặc Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc nước ta, một nữa nước ta được giải phóng, làm cơ sở vững chắc, cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược ở miền Nam vào mùa xuân 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất.

/
 

☞ Bản quyền của LIÊN ĐỘI AN PHÚ
QUẬN 2 - TP.HCM
☞ Thiết kế bởi LÊ TRẦN NGỰ VŨ


WeBlog hiển thị tốt nhất ở độ phân giải 1280 x 800 pixels.
Xem WeBlog tốt nhất với trình duyệt Google Chrome - Opera và Mozilla FireFox 3.5 trở lên
Y!M : letrannguvu | Mail : letrannguvu@gmail.com - thcsanphu.q2@gmail.com
Ghi rõ nguồn Liên Đội THCS An Phú Quận 2 ( thcsanphuq2.blogspot.com hoặc liênđộianphú.vn ) khi trích dẫn nội dung bài viết trên trang này.

Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang